Luật Sư Tư Vấn Khiếu Nại Thu Hồi Đất
Luật Sư Tư Vấn Khiếu Nại Thu Hồi Đất
Luật Sư Tư Vấn Khiếu Nại Thu Hồi Đất
CỘNGHÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Hải Phòng ngày … tháng … năm 2018
ĐƠN KHIẾU NẠI
(V/v: Khiếunại Quyết định số 2899/QĐ-UBND ngày 28/6/2018 của UBND huyện Thủy Nguyên, tỉnhHải Phòng)
Người khiếu nại:
Thường trú
Người bị khiếu nại: ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN
Nộidung khiếu nại:
Ngày 28 tháng 6 năm 2018, tôi có nhận được Quyếtđịnh số 2899/QĐ-UBN (sau đây xin gọi tắt là“Quyết định số 2899”) của Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên về việc phêduyệt phương án điều chỉnh khoản hỗ trợ khác về đất theo Công văn số2997/VP-ĐC3 ngày 18/6/2018 và về công trình vật kiến trúc theo Thông báo số218/TB-UBND ngày 25/6/2018 của UBND thành phố Hải Phòng khi Nhà nước thu hồi đấtđể thực hiện Dự án Đầu tư xây dựng Hạ tầng kỹ thuật Khu đô thị mới Bắc Sông Cấm(giai đoạn 1 – hạng mục xây dụng cầuHoàng Văn Thụ) tại xã Tân Dương, huyện Thủy Nguyên. Tôi hoàn toàn không đồngý với Quyết định số 2899 nêu trên với những lý do sau đây:
Thứnhất, vào ngày 08 tháng 11năm 2017, tôi đã có đơn khiếu nại khẩn cấp gửi đến Ủy ban nhân dân huyện ThủyNguyên, tỉnh Hải Phòng khiếu nại về việc Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên raQuyết Định thu hồi đất số 4859/QĐ-UBND ngày 23/8/2017 và thông báo số282/TB-UBND ngày 27/7/2017, có sự xác nhận của đơn vị bưu điện về việc Ủy bannhân dân huyện Thủy Nguyên đã nhận đơn khiếu nại của tôi, mã bưu phẩm RG 181366 660 VN do ông Nguyễn Văn Tùng – Chủ tịch ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyênký nhận ngày 20/11/2017. Theo quy định tại Điều 27 Luật khiếu nại 2011 được hướngdẫn bởi Điều 5 Thông tư 07/2013/TT-TTCP quy định như sau:
Tuy nhiên, không hiểu vì lý do gì mà đến nayđã gần 01 (một) năm, phía Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên vẫn chưa có bất kỳđộng thái hay một văn bản trả lời nào về nội dung trong đơn khiếu nại tôi đã gửivào ngày 08/11/2017. Theo nội dung đơn khiếu nại ngày 08/11/2017, tôi đã trìnhbày cũng như nêu rõ những sai phạm của Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên đối vớiviệc ra Quyết định thu hồi đất và bồi thường giá trị về đất cũng như giá trị vềtài sản gắn liền trên đất là trái quy định pháp luật. Ủy ban nhân dân huyện ThủyNguyên không chỉ rõ được những sai phạm mà phía Ủy ban nhân dân huyện ThủyNguyên lấy đó làm căn cứ để thu hồi đất của tôi cũng như không chứng minh đượcđất mà gia đình tôi đang sử dụng là đất lấn chiếm. Khi tôi yêu cầu phía Ủy bannhân dân huyện Thủy Nguyên trả lời cho tôi về những bất cập trong việc thu hồiquyền sử dụng đất của tôi thì phía Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên lại cốtình lẫn tránh, không trả lời được.
Thứ hai, theo Quyết định số 2899 mới đây của Ủy bannhân dân huyện Thủy Nguyên chỉ hỗ trợ bồi thường về giá trị sử dụng đất chứkhông bồi thường đúng theo quy định của pháp luật về đất đai cho tôi là trái vớiquy định của pháp luật. Như tôi đã trình bày ở trên, khi chưa giải quyết khiếunại của công dân nhưng Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên liên tiếp ra những vănbản thực hiện việc thu hồi cũng như tống đạt các văn bản hỗ trợ bồi thường làkhông đúng với quy trình, quy định của pháp luật.
Theo quy định tại Điều 82 Luật Đất đai 2013 đã quyđịnh:
“Điều 82. Trường hợp Nhà nước thu hồi đấtkhông được bồi thường về đất
Nhà nước thu hồi đất không bồi thường về đấttrong các trường hợp sau đây:
1. Các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều76 của Luật này;
2. Đất được Nhà nước giao để quản lý;
3. Đất thu hồi trong các trường hợp quy địnhtại Điều 64 và các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều 65 của Luật này;
4. Trường hợp không đủ điều kiện cấpGiấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liềnvới đất theo quy định của Luật này, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 77của Luật này.”
Luật Đất Đai 2013 đã quy định 4 trường hợpthu hồi đất rất rõ ràng từ điều 61 đến điều 65 như: thu hồi đất vì mục đích quốcphòng an ninh; thu hồi đất để phát triển kinh tế xã hội vì lợi ích quốc gia,công cộng; thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai; thu hồi đất do chấm dứtviệc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tínhmạng con người.
Theo quy định tại Điều64 Luật Đất đai 2013 và khoản 1 Điều 66 Nghị định 43/2014 quy định:
Như vậy, khi cho rằng đất của gia đình tôi bịvi phạm pháp luật về đất đai thì cơ quan có thẩm quyền phải lập biên bản xử phạtvi phạm hành chính để làm căn cứ quyết định thu hồi đất của gia đình tôi. Tuynhiên, Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên cho rằng gia đình tôi lấn chiếm nhưngkhông chứng minh được là lấn chiếm khi nào, không có biên bản, quyết định xử phạthành chính theo quy định của pháp luật, trong khi diện tích đất này đã được giađình tôi sử dụng ổn định từ lâu. Hơn nữa, Đây là khu vực đất ở đủ điều kiện cấpgiấy chứng nhận theo luật đất đai 2013 vì đất các hộ dân không bị tranh chấp, sửdụng ổn định lâu dài, phù hợp quy hoạch. Việc dự án chỉ mới hình thành có quyếtđịnh từ 2016 trong khi người dân nơi đây sinh sống ổn định ở đây từ thời xaxưa. Bằng chứng là khu vực này 1 hộ đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đấtnên gia đình tôi đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Theo như tôi đã phân tích ở trên, đất của giađình tôi không thuộc các trường hợp Nhà nước thu hồi mà không bồi thường quy địnhtại Điều 82 Luật đất đai 2013. Vì vậy, việc bồi thường về đất cho gia đình tôisẽ được bồi thường như trường hợp đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ủyban nhân dân huyện Thủy Nguyên cho rằng chỉ hỗ trợ, không bồi thường theo quy địnhcủa pháp luật về đất đai là không có căn cứ và trái với quy định của pháp luật.
Thứ ba, đối với Quyết định về việc không bồi thường100% đơn giá vật kiến trúc xây dựng trên đất mà chỉ hỗ trợ theo Quyết định số2899 của Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên là không đúng với quy định của phápluật.
Theo quy định tại các điều 88, 89, 90 và 91Luật Đất đai đã quy định rõ ràng về Bồi thường thiệt hại về tài sản, về sản xuất,kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất quy định rằng:
“Điều 88. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại vềtài sản, ngừng sản xuất, kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất
1. Khi Nhà nước thu hồi đất mà chủ sở hữu tàisản hợp pháp gắn liền với đất bị thiệt hại về tài sản thì được bồi thường.
2. Khi Nhà nước thu hồi đất mà tổ chức, hộgia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầutư nước ngoài phải ngừng sản xuất, kinh doanh mà có thiệt hại thì được bồithường thiệt hại.
Điều 89. Bồi thường thiệt hại về nhà, công trình xây dựng trên đất khi Nhànước thu hồi đất
1. Đối với nhà ở, công trình phục vụ sinhhoạt gắn liền với đất của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nướcngoài khi Nhà nước thu hồi đất phải tháo dỡ toàn bộ hoặc một phần mà phần cònlại không bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật thì chủ sởhữu nhà ở, công trình đó được bồi thường bằng giá trị xây dựng mới của nhà ở,công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương.
Trường hợp phần còn lại của nhà ở, công trìnhvẫn bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật thì bồi thường theothiệt hại thực tế.
3. Đối với công trình hạ tầng kỹ thuật, hạtầng xã hội gắn liền với đất đang sử dụng không thuộc trường hợp quy định tạikhoản 1 và khoản 2 Điều này thì mức bồi thường tính bằng giá trị xây dựng mớicủa công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương theo quy định của pháp luậtchuyên ngành.
Điều 90. Bồi thường đối với cây trồng, vật nuôi
1. Khi Nhà nước thu hồi đất mà gây thiệt hạiđối với cây trồng thì việc bồi thường thực hiện theo quy định sau đây:
a) Đối với cây hàng năm, mức bồi thường đượctính bằng giá trị sản lượng của vụ thu hoạch. Giá trị sản lượng của vụ thuhoạch được tính theo năng suất của vụ cao nhất trong 03 năm trước liền kề củacây trồng chính tại địa phương và giá trung bình tại thời điểm thu hồi đất;
b) Đối với cây lâu năm, mức bồi thường đượctính bằng giá trị hiện có của vườn cây theo giá ở địa phương tại thời điểm thuhồi đất mà không bao gồm giá trị quyền sử dụng đất;
c) Đối với cây trồng chưa thu hoạch nhưng cóthể di chuyển đến địa điểm khác thì được bồi thường chi phí di chuyển và thiệthại thực tế do phải di chuyển, phải trồng lại;
d) Đối với cây rừng trồng bằng nguồn vốn ngânsách nhà nước, cây rừng tự nhiên giao cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trồng,quản lý, chăm sóc, bảo vệ thì bồi thường theo giá trị thiệt hại thực tế củavườn cây; tiền bồi thường được phân chia cho người quản lý, chăm sóc, bảo vệ theoquy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng.
2. Khi Nhà nước thu hồi đất mà gây thiệt hạiđối với vật nuôi là thủy sản thì việc bồi thường thực hiện theo quy định sauđây:
a) Đối với vật nuôi là thủy sản mà tại thờiđiểm thu hồi đất đã đến thời kỳ thu hoạch thì không phải bồi thường;
b) Đối với vật nuôi là thủy sản mà tại thờiđiểm thu hồi đất chưa đến thời kỳ thu hoạch thì được bồi thường thiệt hại thựctế do phải thu hoạch sớm; trường hợp có thể di chuyển được thì được bồi thườngchi phí di chuyển và thiệt hại do di chuyển gây ra; mức bồi thường cụ thể do Ủyban nhân dân cấp tỉnh quy định.
Điều 91. Bồi thường chi phí di chuyển khi Nhà nước thu hồi đất
1. Khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyểntài sản thì được Nhà nước bồi thường chi phí để tháo dỡ, di chuyển, lắp đặt;trường hợp phải di chuyển hệ thống máy móc, dây chuyền sản xuất còn được bồithường đối với thiệt hại khi tháo dỡ, vận chuyển, lắp đặt.
2. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định mức bồithường tại khoản 1 Điều này.”
Hơn nữa, theoquy định tại Điều 92 Luật Đất đai 2013 quy định “Trường hợp Nhà nước thu hồi đất không được bồi thường tài sản gắn liềnvới đất” như sau:
1. Tài sản gắn liền với đất thuộc một trongcác trường hợp thu hồi đất quy định tại các điểm a, b, d, đ, e, i khoản 1 Điều 64và điểm b, d khoản 1 Điều 65 của Luật này.
2. Tài sản gắn liền với đất được tạo lập tráiquy định của pháp luật hoặc tạo lập từ sau khi có thông báo thu hồi đất của cơquan nhà nước có thẩm quyền.
3. Công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xãhội và công trình xây dựng khác không còn sử dụng.
Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luậtđất đai 2013 nêu trên thì đất và tài sản của gia đình chúng tôi đang sử dụng làhợp pháp, bởi Luật đất đai 2013 quy định rằng khi thu hồi đất do vi phạm phápluật về đất đai phải dựa vào các quyết định xử phạt hành chính để làm căn cứquyết định thu hồi đất. Vì vậy, khi không có bất kỳ một văn bản xử phạt vi phạmhành chính nào đối với mãnh đất mà tôi đang sử dụng thì không có cơ sở và căn cứđể nói rằng tài sản của gia đình tôi đã tạo lập gắn liền trên đất là không hợppháp; và
Theo khoản 2 Điều 92 Luật Đất đai 2013 quy địnhnhư sau: “2. Tài sản gắn liền với đất được tạo lập trái quy định củapháp luật hoặc tạo lập từ sau khi có thông báo thu hồi đất của cơ quan nhà nướccó thẩm quyền.” Như tôiđã trình bày ở phần trên thì đất của gia đình chúng tôi đang sử dụng là hợppháp nên các tài sản gắn liền trên đất được gia đình chúng tôi tạo lập là hoàntoàn hợp pháp; và
Các công trình được quy định tại Khoản 3 Điều92 Luật Đất đai 2013 nêu trên vẫn được gia đình chúng tôi bảo quản, sử dụng hợppháp, không có bất kỳ một sự “bỏ hoang” nào.
Vì vậy, tài sản gắn liền trên đất của giađình tôi không thuộc các trường hợp không được Nhà nước bồi thường khi Nhà nướcthực hiện việc thu hồi đất quy định tại Điều 92 Luật Đất đai 2013, việc Ủy bannhân dân huyện Thủy Nguyên cho rằng tài sản gắn liền trên đất của gia đìnhchúng tôi tạo lập là trái pháp luật xuất phát từ ý chí chủ quan từ phía Ủy bannhân dân huyện Thủy Nguyên, không đúng với các quy định của pháp luật về đấtđai.
Cũng theo văn bản trả lời số1196/UBND-TN&MT ngày 23/7/2018 của Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên trả lờirằng chỉ hỗ trợ chứ không bồi thường 100% đơn giá vật kiến trúc xây dựng làkhông đúng với quy định của pháp luật về đất đai, ảnh hưởng nghiêm trọng đếnquyền và lợi ích hợp pháp của công dân bởi quyền sử dụng đất của tôi đang sử dụnghợp pháp thì mặc nhiên những tài sản được gia đình tôi tạo lập là hoàn toàn hợppháp.
Ngoài ra, việc thu hồi đất gia đình tôi chúngtôi không nhận được bất kỳ một văn bản, chứng từ, công văn, bút tích của cơquan nhà nước có thẩm quyền là đất tôi nằm trong 1 phần hành lang giao thông,đê điều, chợ...Vì nguồn gốc đất chúng tôi hợp pháp, từ lâu. Hơn nữa, đê điều đãđược phá bỏ từ lâu từ năm 1990 theo quyết định mở đường của Sở giao thông.
Từ những phân tích nêu trên, Có thể thấy rõđược những sai phạm của Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên trong việc không thựchiện việc giải quyết khiếu nại của công dân cũng như ra các văn bản, các Quyếtđịnh thu hồi đất, hỗ trợ bồi thường trái với quy định của pháp luật. Cùng với việcỦy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên ra Quyết định số 2899/QĐ-UBND ngày 28/6/2018về việc hỗ trợ bồi thường về đất và tài sản gắn liền trên đất nhưng không thựchiện việc bồi thường về đất đúng theo quy định của pháp luật về đất đai khi Nhànước thu hồi đất để thực hiện dự án và không thực hiện việc bồi thường 100% vềtài sản gắn liền trên đất theo quy định của pháp luật là không có căn cứ, tráivới các quy định của pháp luật, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợppháp của công dân.
Đề nghị của người khiếu nại:
Có thể thấy rõ được những sai phạm của Ủy ban nhân dân huyện ThủyNguyên trong việc thực hiện việc giải quyết khiếu nại của công dân cũng như racác văn bản, các Quyết định thu hồi đất, hỗ trợ bồi thường trái với quy định củapháp luật.
1.Yêu cầu Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên thựchiện việc bồi thường về đất theo đúng quy định của pháp luật về đất đaikhi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự ántheo giá thị trường;
2.Yêu cầu Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên thựchiện việc bồi thường 100% về tài sản gắn liền trên đất mà gia đình tôi đã tạo lậptheo đúng quy định của pháp luật;
3.Yêu cầu Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyêncung cấp bằng chứng, văn bản cụ thể vị trí nào quy hoạch giao thông, vị trí nàoquy hoạch chợ và hành lang, đê điều cũng như bằng chứng nào để làm căn cứ thu hồiđất của tôi; Phải có chứng cứ cụ thể không thể nói khơi khơi trên văn bản.
4.Yêu cầu Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên trảlời đơn khiếu nại này bằng quyết định khiếu nại theo quy định tại Điều 31 LuậtKhiếu nại 2011 được hướng dẫn bởi Thông tư 07/2013/TT-TTCP.
Bằng đơn khiếu nại này, tôi đề nghị Ủy bannhân dân huyện Thủy Nguyên thận trọng xem xét nhằm tìm kiếm giải pháp tốt đẹpnhất, thực hiện đúng theo các quy định của pháp luật tránh những thiệt thòi,oan sai cho người dân cũng như uy tín của Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên vàtỉnh Hải Phòng. Vụ việc nếu không được giải quyết dứt điểm buộc tôi phải nhờbáo chí và khiếu nại, tố cáo tiếp theo.
Xin chân thành cảm ơn.
Trân trọng./.
Đính kèm đơn khiếu nại:
-Quyết định 4589/QĐ-UBNDNgười làm đơn
-Quyết định 2899/QĐ-UBND
-CMND, Hộ khẩu photo
-Phiếu báo phát
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Hải Phòng ngày … tháng … năm 2018
ĐƠN KHIẾU NẠI
(V/v: Khiếu nại Quyết định số 2899/QĐ-UBND ngày 28/6/2018 của UBND huyện Thủy Nguyên, tỉnh Hải Phòng)
Người khiếu nại :
Thường trú :
Người bị khiếu nại : ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN
Nội dung khiếu nại:
Ngày 28 tháng 6 năm 2018, tôi có nhận được Quyết định số 2899/QĐ-UBN (sau đây xin gọi tắt là “Quyết định số 2899”) của Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên về việc phê duyệt phương án điều chỉnh khoản hỗ trợ khác về đất theo Công văn số 2997/VP-ĐC3 ngày 18/6/2018 và về công trình vật kiến trúc theo Thông báo số 218/TB-UBND ngày 25/6/2018 của UBND thành phố Hải Phòng khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện Dự án Đầu tư xây dựng Hạ tầng kỹ thuật Khu đô thị mới Bắc Sông Cấm (giai đoạn 1 – hạng mục xây dụng cầu Hoàng Văn Thụ) tại xã Tân Dương, huyện Thủy Nguyên. Tôi hoàn toàn không đồng ý với Quyết định số 2899 nêu trên với những lý do sau đây:
Thứ nhất, vào ngày 08 tháng 11 năm 2017, tôi đã có đơn khiếu nại khẩn cấp gửi đến Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên, tỉnh Hải Phòng khiếu nại về việc Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên ra Quyết Định thu hồi đất số 4859/QĐ-UBND ngày 23/8/2017 và thông báo số 282/TB-UBND ngày 27/7/2017, có sự xác nhận của đơn vị bưu điện về việc Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên đã nhận đơn khiếu nại của tôi, mã bưu phẩm RG 181 366 660 VN do ông Nguyễn Văn Tùng – Chủ tịch ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên ký nhận ngày 20/11/2017. Theo quy định tại Điều 27 Luật khiếu nại 2011 được hướng dẫn bởi Điều 5 Thông tư 07/2013/TT-TTCP quy định như sau:
Tuy nhiên, không hiểu vì lý do gì mà đến nay đã gần 01 (một) năm, phía Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên vẫn chưa có bất kỳ động thái hay một văn bản trả lời nào về nội dung trong đơn khiếu nại tôi đã gửi vào ngày 08/11/2017. Theo nội dung đơn khiếu nại ngày 08/11/2017, tôi đã trình bày cũng như nêu rõ những sai phạm của Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên đối với việc ra Quyết định thu hồi đất và bồi thường giá trị về đất cũng như giá trị về tài sản gắn liền trên đất là trái quy định pháp luật. Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên không chỉ rõ được những sai phạm mà phía Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên lấy đó làm căn cứ để thu hồi đất của tôi cũng như không chứng minh được đất mà gia đình tôi đang sử dụng là đất lấn chiếm. Khi tôi yêu cầu phía Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên trả lời cho tôi về những bất cập trong việc thu hồi quyền sử dụng đất của tôi thì phía Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên lại cố tình lẫn tránh, không trả lời được.
Thứ hai, theo Quyết định số 2899 mới đây của Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên chỉ hỗ trợ bồi thường về giá trị sử dụng đất chứ không bồi thường đúng theo quy định của pháp luật về đất đai cho tôi là trái với quy định của pháp luật. Như tôi đã trình bày ở trên, khi chưa giải quyết khiếu nại của công dân nhưng Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên liên tiếp ra những văn bản thực hiện việc thu hồi cũng như tống đạt các văn bản hỗ trợ bồi thường là không đúng với quy trình, quy định của pháp luật.
Theo quy định tại Điều 82 Luật Đất đai 2013 đã quy định:
“Điều 82. Trường hợp Nhà nước thu hồi đất không được bồi thường về đất
Nhà nước thu hồi đất không bồi thường về đất trong các trường hợp sau đây:
1. Các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 76 của Luật này;
2. Đất được Nhà nước giao để quản lý;
3. Đất thu hồi trong các trường hợp quy định tại Điều 64 và các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều 65 của Luật này;
4. Trường hợp không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 77 của Luật này.”
Luật Đất Đai 2013 đã quy định 4 trường hợp thu hồi đất rất rõ ràng từ điều 61 đến điều 65 như: thu hồi đất vì mục đích quốc phòng an ninh; thu hồi đất để phát triển kinh tế xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai; thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người.
Theo quy định tại Điều 64 Luật Đất đai 2013 và khoản 1 Điều 66 Nghị định 43/2014 quy định:
Như vậy, khi cho rằng đất của gia đình tôi bị vi phạm pháp luật về đất đai thì cơ quan có thẩm quyền phải lập biên bản xử phạt vi phạm hành chính để làm căn cứ quyết định thu hồi đất của gia đình tôi. Tuy nhiên, Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên cho rằng gia đình tôi lấn chiếm nhưng không chứng minh được là lấn chiếm khi nào, không có biên bản, quyết định xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật, trong khi diện tích đất này đã được gia đình tôi sử dụng ổn định từ lâu. Hơn nữa, Đây là khu vực đất ở đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận theo luật đất đai 2013 vì đất các hộ dân không bị tranh chấp, sử dụng ổn định lâu dài, phù hợp quy hoạch. Việc dự án chỉ mới hình thành có quyết định từ 2016 trong khi người dân nơi đây sinh sống ổn định ở đây từ thời xa xưa. Bằng chứng là khu vực này 1 hộ đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên gia đình tôi đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Theo như tôi đã phân tích ở trên, đất của gia đình tôi không thuộc các trường hợp Nhà nước thu hồi mà không bồi thường quy định tại Điều 82 Luật đất đai 2013. Vì vậy, việc bồi thường về đất cho gia đình tôi sẽ được bồi thường như trường hợp đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên cho rằng chỉ hỗ trợ, không bồi thường theo quy định của pháp luật về đất đai là không có căn cứ và trái với quy định của pháp luật.
Thứ ba, đối với Quyết định về việc không bồi thường 100% đơn giá vật kiến trúc xây dựng trên đất mà chỉ hỗ trợ theo Quyết định số 2899 của Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên là không đúng với quy định của pháp luật.
Theo quy định tại các điều 88, 89, 90 và 91 Luật Đất đai đã quy định rõ ràng về Bồi thường thiệt hại về tài sản, về sản xuất, kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất quy định rằng:
“Điều 88. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại về tài sản, ngừng sản xuất, kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất
1. Khi Nhà nước thu hồi đất mà chủ sở hữu tài sản hợp pháp gắn liền với đất bị thiệt hại về tài sản thì được bồi thường.
2. Khi Nhà nước thu hồi đất mà tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải ngừng sản xuất, kinh doanh mà có thiệt hại thì được bồi thường thiệt hại.
Điều 89. Bồi thường thiệt hại về nhà, công trình xây dựng trên đất khi Nhà nước thu hồi đất
1. Đối với nhà ở, công trình phục vụ sinh hoạt gắn liền với đất của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài khi Nhà nước thu hồi đất phải tháo dỡ toàn bộ hoặc một phần mà phần còn lại không bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật thì chủ sở hữu nhà ở, công trình đó được bồi thường bằng giá trị xây dựng mới của nhà ở, công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương.
Trường hợp phần còn lại của nhà ở, công trình vẫn bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật thì bồi thường theo thiệt hại thực tế.
3. Đối với công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội gắn liền với đất đang sử dụng không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì mức bồi thường tính bằng giá trị xây dựng mới của công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương theo quy định của pháp luật chuyên ngành.
Điều 90. Bồi thường đối với cây trồng, vật nuôi
1. Khi Nhà nước thu hồi đất mà gây thiệt hại đối với cây trồng thì việc bồi thường thực hiện theo quy định sau đây:
a) Đối với cây hàng năm, mức bồi thường được tính bằng giá trị sản lượng của vụ thu hoạch. Giá trị sản lượng của vụ thu hoạch được tính theo năng suất của vụ cao nhất trong 03 năm trước liền kề của cây trồng chính tại địa phương và giá trung bình tại thời điểm thu hồi đất;
b) Đối với cây lâu năm, mức bồi thường được tính bằng giá trị hiện có của vườn cây theo giá ở địa phương tại thời điểm thu hồi đất mà không bao gồm giá trị quyền sử dụng đất;
c) Đối với cây trồng chưa thu hoạch nhưng có thể di chuyển đến địa điểm khác thì được bồi thường chi phí di chuyển và thiệt hại thực tế do phải di chuyển, phải trồng lại;
d) Đối với cây rừng trồng bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước, cây rừng tự nhiên giao cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trồng, quản lý, chăm sóc, bảo vệ thì bồi thường theo giá trị thiệt hại thực tế của vườn cây; tiền bồi thường được phân chia cho người quản lý, chăm sóc, bảo vệ theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng.
2. Khi Nhà nước thu hồi đất mà gây thiệt hại đối với vật nuôi là thủy sản thì việc bồi thường thực hiện theo quy định sau đây:
a) Đối với vật nuôi là thủy sản mà tại thời điểm thu hồi đất đã đến thời kỳ thu hoạch thì không phải bồi thường;
b) Đối với vật nuôi là thủy sản mà tại thời điểm thu hồi đất chưa đến thời kỳ thu hoạch thì được bồi thường thiệt hại thực tế do phải thu hoạch sớm; trường hợp có thể di chuyển được thì được bồi thường chi phí di chuyển và thiệt hại do di chuyển gây ra; mức bồi thường cụ thể do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định.
Điều 91. Bồi thường chi phí di chuyển khi Nhà nước thu hồi đất
1. Khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển tài sản thì được Nhà nước bồi thường chi phí để tháo dỡ, di chuyển, lắp đặt; trường hợp phải di chuyển hệ thống máy móc, dây chuyền sản xuất còn được bồi thường đối với thiệt hại khi tháo dỡ, vận chuyển, lắp đặt.
2. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định mức bồi thường tại khoản 1 Điều này.”
Hơn nữa, theo quy định tại Điều 92 Luật Đất đai 2013 quy định “Trường hợp Nhà nước thu hồi đất không được bồi thường tài sản gắn liền với đất” như sau:
1. Tài sản gắn liền với đất thuộc một trong các trường hợp thu hồi đất quy định tại các điểm a, b, d, đ, e, i khoản 1 Điều 64 và điểm b, d khoản 1 Điều 65 của Luật này.
2. Tài sản gắn liền với đất được tạo lập trái quy định của pháp luật hoặc tạo lập từ sau khi có thông báo thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
3. Công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và công trình xây dựng khác không còn sử dụng.
Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật đất đai 2013 nêu trên thì đất và tài sản của gia đình chúng tôi đang sử dụng là hợp pháp, bởi Luật đất đai 2013 quy định rằng khi thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai phải dựa vào các quyết định xử phạt hành chính để làm căn cứ quyết định thu hồi đất. Vì vậy, khi không có bất kỳ một văn bản xử phạt vi phạm hành chính nào đối với mãnh đất mà tôi đang sử dụng thì không có cơ sở và căn cứ để nói rằng tài sản của gia đình tôi đã tạo lập gắn liền trên đất là không hợp pháp; và
Theo khoản 2 Điều 92 Luật Đất đai 2013 quy định như sau: “2. Tài sản gắn liền với đất được tạo lập trái quy định của pháp luật hoặc tạo lập từ sau khi có thông báo thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.” Như tôi đã trình bày ở phần trên thì đất của gia đình chúng tôi đang sử dụng là hợp pháp nên các tài sản gắn liền trên đất được gia đình chúng tôi tạo lập là hoàn toàn hợp pháp; và
Các công trình được quy định tại Khoản 3 Điều 92 Luật Đất đai 2013 nêu trên vẫn được gia đình chúng tôi bảo quản, sử dụng hợp pháp, không có bất kỳ một sự “bỏ hoang” nào.
Vì vậy, tài sản gắn liền trên đất của gia đình tôi không thuộc các trường hợp không được Nhà nước bồi thường khi Nhà nước thực hiện việc thu hồi đất quy định tại Điều 92 Luật Đất đai 2013, việc Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên cho rằng tài sản gắn liền trên đất của gia đình chúng tôi tạo lập là trái pháp luật xuất phát từ ý chí chủ quan từ phía Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên, không đúng với các quy định của pháp luật về đất đai.
Cũng theo văn bản trả lời số 1196/UBND-TN&MT ngày 23/7/2018 của Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên trả lời rằng chỉ hỗ trợ chứ không bồi thường 100% đơn giá vật kiến trúc xây dựng là không đúng với quy định của pháp luật về đất đai, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân bởi quyền sử dụng đất của tôi đang sử dụng hợp pháp thì mặc nhiên những tài sản được gia đình tôi tạo lập là hoàn toàn hợp pháp.
Ngoài ra, việc thu hồi đất gia đình tôi chúng tôi không nhận được bất kỳ một văn bản, chứng từ, công văn, bút tích của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là đất tôi nằm trong 1 phần hành lang giao thông, đê điều, chợ...Vì nguồn gốc đất chúng tôi hợp pháp, từ lâu. Hơn nữa, đê điều đã được phá bỏ từ lâu từ năm 1990 theo quyết định mở đường của Sở giao thông.
Từ những phân tích nêu trên, Có thể thấy rõ được những sai phạm của Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên trong việc không thực hiện việc giải quyết khiếu nại của công dân cũng như ra các văn bản, các Quyết định thu hồi đất, hỗ trợ bồi thường trái với quy định của pháp luật. Cùng với việc Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên ra Quyết định số 2899/QĐ-UBND ngày 28/6/2018 về việc hỗ trợ bồi thường về đất và tài sản gắn liền trên đất nhưng không thực hiện việc bồi thường về đất đúng theo quy định của pháp luật về đất đai khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án và không thực hiện việc bồi thường 100% về tài sản gắn liền trên đất theo quy định của pháp luật là không có căn cứ, trái với các quy định của pháp luật, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Đề nghị của người khiếu nại:
Có thể thấy rõ được những sai phạm của Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên trong việc thực hiện việc giải quyết khiếu nại của công dân cũng như ra các văn bản, các Quyết định thu hồi đất, hỗ trợ bồi thường trái với quy định của pháp luật.
1.Yêu cầu Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên thực hiện việc bồi thường về đất theo đúng quy định của pháp luật về đất đai khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án theo giá thị trường;
2.Yêu cầu Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên thực hiện việc bồi thường 100% về tài sản gắn liền trên đất mà gia đình tôi đã tạo lập theo đúng quy định của pháp luật;
3.Yêu cầu Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên cung cấp bằng chứng, văn bản cụ thể vị trí nào quy hoạch giao thông, vị trí nào quy hoạch chợ và hành lang, đê điều cũng như bằng chứng nào để làm căn cứ thu hồi đất của tôi; Phải có chứng cứ cụ thể không thể nói khơi khơi trên văn bản.
4.Yêu cầu Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên trả lời đơn khiếu nại này bằng quyết định khiếu nại theo quy định tại Điều 31 Luật Khiếu nại 2011 được hướng dẫn bởi Thông tư 07/2013/TT-TTCP.
Bằng đơn khiếu nại này, tôi đề nghị Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên thận trọng xem xét nhằm tìm kiếm giải pháp tốt đẹp nhất, thực hiện đúng theo các quy định của pháp luật tránh những thiệt thòi, oan sai cho người dân cũng như uy tín của Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên và tỉnh Hải Phòng. Vụ việc nếu không được giải quyết dứt điểm buộc tôi phải nhờ báo chí và khiếu nại, tố cáo tiếp theo.
Xin chân thành cảm ơn.
Trân trọng./.
Đính kèm đơn khiếu nại:
-Quyết định 4589/QĐ-UBND Người làm đơn
-Quyết định 2899/QĐ-UBND
-CMND, Hộ khẩu photo
-Phiếu báo phát
