Warning: fread(): Length parameter must be greater than 0 in /home/luatsu2026/domains/luatsugiadinh2.net.vn/public_html/storage/modification/system/library/cache/file.php on line 32Notice: fwrite(): write of 197 bytes failed with errno=122 Disk quota exceeded in /home/luatsu2026/domains/luatsugiadinh2.net.vn/public_html/storage/modification/system/library/cache/file.php on line 53 Luật Sư Tư Vấn Khiếu Nại Thu Hồi Đất - luật sư chuyên về khiếu nại, khởi kiện | luatsugiadinh.net.vn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Hải Phòng ngày … tháng … năm 2018

ĐƠN KHIẾU NẠI

(V/v: Khiếu nại Quyết định số 2899/QĐ-UBND ngày 28/6/2018 của UBND huyện Thủy Nguyên, tỉnh Hải Phòng)

Kính gửi:   CHỦ TỊCH ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN,             TỈNH HẢI PHÒNG

Người khiếu nại     :

Thường trú              : 

Người bị khiếu nại : ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN

Nội dung khiếu nại:

Ngày 28 tháng 6 năm 2018, tôi có nhận được Quyết định số 2899/QĐ-UBN (sau đây xin gọi tắt là  “Quyết định số 2899”) của Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên về việc phê duyệt phương án điều chỉnh khoản hỗ trợ khác về đất theo Công văn số 2997/VP-ĐC3 ngày 18/6/2018 và về công trình vật kiến trúc theo Thông báo số 218/TB-UBND ngày 25/6/2018 của UBND thành phố Hải Phòng khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện Dự án Đầu tư xây dựng Hạ tầng kỹ thuật Khu đô thị mới Bắc Sông Cấm (giai đoạn 1 – hạng mục xây dụng cầu Hoàng Văn Thụ) tại xã Tân Dương, huyện Thủy Nguyên. Tôi hoàn toàn không đồng ý với Quyết định số 2899 nêu trên với những lý do sau đây:

Thứ nhất, vào ngày 08 tháng 11 năm 2017, tôi đã có đơn khiếu nại khẩn cấp gửi đến Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên, tỉnh Hải Phòng khiếu nại về việc Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên ra Quyết Định thu hồi đất số 4859/QĐ-UBND ngày 23/8/2017 và thông báo số 282/TB-UBND ngày 27/7/2017, có sự xác nhận của đơn vị bưu điện về việc Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên đã nhận đơn khiếu nại của tôi, mã bưu phẩm RG 181 366 660 VN do ông Nguyễn Văn Tùng – Chủ tịch ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên ký nhận ngày 20/11/2017. Theo quy định tại Điều 27 Luật khiếu nại 2011 được hướng dẫn bởi Điều 5 Thông tư 07/2013/TT-TTCP quy định như sau:

“Điều 5. Thụ lý giải quyết khiếu nại 
1. Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật cán bộ, công chức thuộc thẩm quyền giải quyết mà không thuộc một trong các trường hợp được quy định tại Điều 11 của Luật khiếu nại, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc lần hai phải thụ lý giải quyết. Đối với trường hợp nhiều người khiếu nại về cùng một nội dung và cử người đại diện để thực hiện việc khiếu nại thì thụ lý khi trong đơn khiếu nại có đầy đủ chữ ký của những người khiếu nại và có văn bản cử người đại diện. Trường hợp không thụ lý giải quyết thì phải nêu rõ lý do trong văn bản thông báo cho người khiếu nại. 
2. Đối với khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại thông báo việc thụ lý bằng văn bản đến người khiếu nại, cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền chuyển khiếu nại đến (nếu có) và cơ quan thanh tra nhà nước cùng cấp biết. Đối với khiếu nại quyết định kỷ luật cán bộ, công chức thì văn bản thông báo việc thụ lý được gửi cho người khiếu nại. Đối với trường hợp nhiều người khiếu nại về cùng một nội dung và cử người đại diện để thực hiện việc khiếu nại thì văn bản thông báo việc thụ lý được gửi đến người đại diện.”

Tuy nhiên, không hiểu vì lý do gì mà đến nay đã gần 01 (một) năm, phía Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên vẫn chưa có bất kỳ động thái hay một văn bản trả lời nào về nội dung trong đơn khiếu nại tôi đã gửi vào ngày 08/11/2017. Theo nội dung đơn khiếu nại ngày 08/11/2017, tôi đã trình bày cũng như nêu rõ những sai phạm của Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên đối với việc ra Quyết định thu hồi đất và bồi thường giá trị về đất cũng như giá trị về tài sản gắn liền trên đất là trái quy định pháp luật. Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên không chỉ rõ được những sai phạm mà phía Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên lấy đó làm căn cứ để thu hồi đất của tôi cũng như không chứng minh được đất mà gia đình tôi đang sử dụng là đất lấn chiếm. Khi tôi yêu cầu phía Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên trả lời cho tôi về những bất cập trong việc thu hồi quyền sử dụng đất của tôi thì phía Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên lại cố tình lẫn tránh, không trả lời được.

Thứ hai, theo Quyết định số 2899 mới đây của Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên chỉ hỗ trợ bồi thường về giá trị sử dụng đất chứ không bồi thường đúng theo quy định của pháp luật về đất đai cho tôi là trái với quy định của pháp luật. Như tôi đã trình bày ở trên, khi chưa giải quyết khiếu nại của công dân nhưng Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên liên tiếp ra những văn bản thực hiện việc thu hồi cũng như tống đạt các văn bản hỗ trợ bồi thường là không đúng với quy trình, quy định của pháp luật.

Theo quy định tại Điều 82 Luật Đất đai 2013 đã quy định:

“Điều 82. Trường hợp Nhà nước thu hồi đất không được bồi thường về đất

Nhà nước thu hồi đất không bồi thường về đất trong các trường hợp sau đây:

1. Các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 76 của Luật này;

2. Đất được Nhà nước giao để quản lý;

3. Đất thu hồi trong các trường hợp quy định tại Điều 64 và các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều 65 của Luật này;

4. Trường hợp không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 77 của Luật này.”

Luật Đất Đai 2013 đã quy định 4 trường hợp thu hồi đất rất rõ ràng từ điều 61 đến điều 65 như: thu hồi đất vì mục đích quốc phòng an ninh; thu hồi đất để phát triển kinh tế xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai; thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người.

Theo quy định tại Điều 64 Luật Đất đai 2013 và khoản 1 Điều 66 Nghị định 43/2014 quy định:

“Điều 66. Trình tự, thủ tục thu hồi đất do vi phạm pháp luật 
1. Trường hợp vi phạm pháp luật mà phải thu hồi đất, khi hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính thì người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm lập biên bản về vi phạm hành chính để làm căn cứ quyết định thu hồi đất.”

Như vậy, khi cho rằng đất của gia đình tôi bị vi phạm pháp luật về đất đai thì cơ quan có thẩm quyền phải lập biên bản xử phạt vi phạm hành chính để làm căn cứ quyết định thu hồi đất của gia đình tôi. Tuy nhiên, Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên cho rằng gia đình tôi lấn chiếm nhưng không chứng minh được là lấn chiếm khi nào, không có biên bản, quyết định xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật, trong khi diện tích đất này đã được gia đình tôi sử dụng ổn định từ lâu. Hơn nữa, Đây là khu vực đất ở đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận theo luật đất đai 2013 vì đất các hộ dân không bị tranh chấp, sử dụng ổn định lâu dài, phù hợp quy hoạch. Việc dự án chỉ mới hình thành có quyết định từ 2016 trong khi người dân nơi đây sinh sống ổn định ở đây từ thời xa xưa. Bằng chứng là khu vực này 1 hộ đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên gia đình tôi đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Theo như tôi đã phân tích ở trên, đất của gia đình tôi không thuộc các trường hợp Nhà nước thu hồi mà không bồi thường quy định tại Điều 82 Luật đất đai 2013. Vì vậy, việc bồi thường về đất cho gia đình tôi sẽ được bồi thường như trường hợp đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên cho rằng chỉ hỗ trợ, không bồi thường theo quy định của pháp luật về đất đai là không có căn cứ và trái với quy định của pháp luật.

Thứ ba, đối với Quyết định về việc không bồi thường 100% đơn giá vật kiến trúc xây dựng trên đất mà chỉ hỗ trợ theo Quyết định số 2899 của Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên là không đúng với quy định của pháp luật.

Theo quy định tại các điều 88, 89, 90 và 91 Luật Đất đai đã quy định rõ ràng về Bồi thường thiệt hại về tài sản, về sản xuất, kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất quy định rằng:

“Điều 88. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại về tài sản, ngừng sản xuất, kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất

1. Khi Nhà nước thu hồi đất mà chủ sở hữu tài sản hợp pháp gắn liền với đất bị thiệt hại về tài sản thì được bồi thường.

2. Khi Nhà nước thu hồi đất mà tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải ngừng sản xuất, kinh doanh mà có thiệt hại thì được bồi thường thiệt hại.

Điều 89. Bồi thường thiệt hại về nhà, công trình xây dựng trên đất khi Nhà nước thu hồi đất

1. Đối với nhà ở, công trình phục vụ sinh hoạt gắn liền với đất của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài khi Nhà nước thu hồi đất phải tháo dỡ toàn bộ hoặc một phần mà phần còn lại không bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật thì chủ sở hữu nhà ở, công trình đó được bồi thường bằng giá trị xây dựng mới của nhà ở, công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương.

Trường hợp phần còn lại của nhà ở, công trình vẫn bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật thì bồi thường theo thiệt hại thực tế.

2. Đối với nhà, công trình xây dựng khác gắn liền với đất không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, khi Nhà nước thu hồi đất mà bị tháo dỡ toàn bộ hoặc một phần mà phần còn lại không bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật thì được bồi thường thiệt hại theo quy định của Chính phủ.

3. Đối với công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội gắn liền với đất đang sử dụng không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì mức bồi thường tính bằng giá trị xây dựng mới của công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương theo quy định của pháp luật chuyên ngành.

Điều 90. Bồi thường đối với cây trồng, vật nuôi

1. Khi Nhà nước thu hồi đất mà gây thiệt hại đối với cây trồng thì việc bồi thường thực hiện theo quy định sau đây:

a) Đối với cây hàng năm, mức bồi thường được tính bằng giá trị sản lượng của vụ thu hoạch. Giá trị sản lượng của vụ thu hoạch được tính theo năng suất của vụ cao nhất trong 03 năm trước liền kề của cây trồng chính tại địa phương và giá trung bình tại thời điểm thu hồi đất;

b) Đối với cây lâu năm, mức bồi thường được tính bằng giá trị hiện có của vườn cây theo giá ở địa phương tại thời điểm thu hồi đất mà không bao gồm giá trị quyền sử dụng đất;

c) Đối với cây trồng chưa thu hoạch nhưng có thể di chuyển đến địa điểm khác thì được bồi thường chi phí di chuyển và thiệt hại thực tế do phải di chuyển, phải trồng lại;

d) Đối với cây rừng trồng bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước, cây rừng tự nhiên giao cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trồng, quản lý, chăm sóc, bảo vệ thì bồi thường theo giá trị thiệt hại thực tế của vườn cây; tiền bồi thường được phân chia cho người quản lý, chăm sóc, bảo vệ theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng.

2. Khi Nhà nước thu hồi đất mà gây thiệt hại đối với vật nuôi là thủy sản thì việc bồi thường thực hiện theo quy định sau đây:

a) Đối với vật nuôi là thủy sản mà tại thời điểm thu hồi đất đã đến thời kỳ thu hoạch thì không phải bồi thường;

b) Đối với vật nuôi là thủy sản mà tại thời điểm thu hồi đất chưa đến thời kỳ thu hoạch thì được bồi thường thiệt hại thực tế do phải thu hoạch sớm; trường hợp có thể di chuyển được thì được bồi thường chi phí di chuyển và thiệt hại do di chuyển gây ra; mức bồi thường cụ thể do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định.

Điều 91. Bồi thường chi phí di chuyển khi Nhà nước thu hồi đất

1. Khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển tài sản thì được Nhà nước bồi thường chi phí để tháo dỡ, di chuyển, lắp đặt; trường hợp phải di chuyển hệ thống máy móc, dây chuyền sản xuất còn được bồi thường đối với thiệt hại khi tháo dỡ, vận chuyển, lắp đặt.

2. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định mức bồi thường tại khoản 1 Điều này.”

Hơn nữa, theo quy định tại Điều 92 Luật Đất đai 2013 quy định “Trường hợp Nhà nước thu hồi đất không được bồi thường tài sản gắn liền với đất” như sau:

1. Tài sản gắn liền với đất thuộc một trong các trường hợp thu hồi đất quy định tại các điểm a, b, d, đ, e, i khoản 1 Điều 64 và điểm b, d khoản 1 Điều 65 của Luật này.

2. Tài sản gắn liền với đất được tạo lập trái quy định của pháp luật hoặc tạo lập từ sau khi có thông báo thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

3. Công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và công trình xây dựng khác không còn sử dụng.

Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật đất đai 2013 nêu trên thì đất và tài sản của gia đình chúng tôi đang sử dụng là hợp pháp, bởi Luật đất đai 2013 quy định rằng khi thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai phải dựa vào các quyết định xử phạt hành chính để làm căn cứ quyết định thu hồi đất. Vì vậy, khi không có bất kỳ một văn bản xử phạt vi phạm hành chính nào đối với mãnh đất mà tôi đang sử dụng thì không có cơ sở và căn cứ để nói rằng tài sản của gia đình tôi đã tạo lập gắn liền trên đất là không hợp pháp; và

Theo khoản 2 Điều 92 Luật Đất đai 2013 quy định như sau: “2. Tài sản gắn liền với đất được tạo lập trái quy định của pháp luật hoặc tạo lập từ sau khi có thông báo thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.” Như tôi đã trình bày ở phần trên thì đất của gia đình chúng tôi đang sử dụng là hợp pháp nên các tài sản gắn liền trên đất được gia đình chúng tôi tạo lập là hoàn toàn hợp pháp; và

Các công trình được quy định tại Khoản 3 Điều 92 Luật Đất đai 2013 nêu trên vẫn được gia đình chúng tôi bảo quản, sử dụng hợp pháp, không có bất kỳ một sự “bỏ hoang” nào.

Vì vậy, tài sản gắn liền trên đất của gia đình tôi không thuộc các trường hợp không được Nhà nước bồi thường khi Nhà nước thực hiện việc thu hồi đất quy định tại Điều 92 Luật Đất đai 2013, việc Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên cho rằng tài sản gắn liền trên đất của gia đình chúng tôi tạo lập là trái pháp luật xuất phát từ ý chí chủ quan từ phía Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên, không đúng với các quy định của pháp luật về đất đai.

Cũng theo văn bản trả lời số 1196/UBND-TN&MT ngày 23/7/2018 của Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên trả lời rằng chỉ hỗ trợ chứ không bồi thường 100% đơn giá vật kiến trúc xây dựng là không đúng với quy định của pháp luật về đất đai, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân bởi quyền sử dụng đất của tôi đang sử dụng hợp pháp thì mặc nhiên những tài sản được gia đình tôi tạo lập là hoàn toàn hợp pháp.

Ngoài ra, việc thu hồi đất gia đình tôi chúng tôi không nhận được bất kỳ một văn bản, chứng từ, công văn, bút tích của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là đất tôi nằm trong 1 phần hành lang giao thông, đê điều, chợ...Vì nguồn gốc đất chúng tôi hợp pháp, từ lâu. Hơn nữa, đê điều đã được phá bỏ từ lâu từ năm 1990 theo quyết định mở đường của Sở giao thông.

Từ những phân tích nêu trên, Có thể thấy rõ được những sai phạm của Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên trong việc không thực hiện việc giải quyết khiếu nại của công dân cũng như ra các văn bản, các Quyết định thu hồi đất, hỗ trợ bồi thường trái với quy định của pháp luật. Cùng với việc Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên ra Quyết định số 2899/QĐ-UBND ngày 28/6/2018 về việc hỗ trợ bồi thường về đất và tài sản gắn liền trên đất nhưng không thực hiện việc bồi thường về đất đúng theo quy định của pháp luật về đất đai khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án và không thực hiện việc bồi thường 100% về tài sản gắn liền trên đất theo quy định của pháp luật là không có căn cứ, trái với các quy định của pháp luật, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Đề nghị của người khiếu nại:

Có thể thấy rõ được những sai phạm của Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên trong việc thực hiện việc giải quyết khiếu nại của công dân cũng như ra các văn bản, các Quyết định thu hồi đất, hỗ trợ bồi thường trái với quy định của pháp luật.

1.Yêu cầu Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên thực hiện việc bồi thường về đất theo đúng quy định của pháp luật về đất đai  khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án theo giá thị trường;

2.Yêu cầu Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên thực hiện việc bồi thường 100% về tài sản gắn liền trên đất mà gia đình tôi đã tạo lập theo đúng quy định của pháp luật;

3.Yêu cầu Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên cung cấp bằng chứng, văn bản cụ thể vị trí nào quy hoạch giao thông, vị trí nào quy hoạch chợ và hành lang, đê điều cũng như bằng chứng nào để làm căn cứ thu hồi đất của tôi; Phải có chứng cứ cụ thể không thể nói khơi khơi trên văn bản.

4.Yêu cầu Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên trả lời đơn khiếu nại này bằng quyết định khiếu nại theo quy định tại Điều 31 Luật Khiếu nại 2011 được hướng dẫn bởi Thông tư 07/2013/TT-TTCP.

Bằng đơn khiếu nại này, tôi đề nghị Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên thận trọng xem xét nhằm tìm kiếm giải pháp tốt đẹp nhất, thực hiện đúng theo các quy định của pháp luật tránh những thiệt thòi, oan sai cho người dân cũng như uy tín của Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên và tỉnh Hải Phòng. Vụ việc nếu không được giải quyết dứt điểm buộc tôi phải nhờ báo chí và khiếu nại, tố cáo tiếp theo.

Xin chân thành cảm ơn.

Trân trọng./.

Đính kèm đơn khiếu nại:

-Quyết định 4589/QĐ-UBND                                                           Người làm đơn

-Quyết định 2899/QĐ-UBND                                  

-CMND, Hộ khẩu photo

-Phiếu báo phát